SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ MỸ

nen-giao-duc

Phải thừa nhận rằng giáo dục của Mỹ tốt hơn Việt Nam. Chúng ta thường gửi con sang Mỹ để nghiên cứu, không thấy bất kỳ người Mỹ ghi danh tại Việt Nam.
Sự phát triển của một người phụ thuộc hai yếu tố: di truyền và môi trường. Do yếu tố di truyền vì vậy Việt Nam khó cạnh tranh với người Mỹ trong các đối tượng của sức mạnh cơ bắp như chạy, nhảy … Nhưng với mệnh hoàn toàn kỹ thuật và đầu óc không cần phải đầu tư rất nhiều tiền, nó có thể như cờ vua, toán học …

Về lý thuyết, Việt Nam cũng có một số tế bào não giống như các dân tộc khác. Kiến thức cơ bản của nhân loại đã tích lũy qua hàng triệu năm tiến hóa, chúng tôi có quyền truy cập vào Mỹ nhờ Internet.

Trong ngắn hạn, nếu chỉ với kỳ thi bút chì và bàn phím, không phải là vật tay Việt Nam có điều kiện ngang bằng với Mỹ.

Với môi trường, điều này có lẽ là Việt Nam luôn thiếu.

Một ví dụ điển hình là việc Việt Nam tham gia bài kiểm tra toán quốc tế từ năm 1974. Chúng tôi tự hào là một đất nước chiến tranh tàn phá trong 20 năm qua và vẫn đạt được một huy chương hoặc một cái gì đó, chỉ thua Liên Xô, Đông Đức và sau đó mất đến Mỹ .. .

Thực sự là gì?

Tôi đã tham dự đội Việt Nam trong năm 1975. Liên minh các nước có 8 sinh viên (số lượng tối đa cho một nhóm) giành huy chương bạc, 3 đồng và số 10.

Mỹ cũng tham gia lần thứ hai, với 8 sinh viên giành được ba huy chương vàng, một huy chương bạc, 3 đồng và chỉ đứng sau Hungary và Đông Đức.

Tôi hỏi ông Phan Đức Chính, Trưởng đoàn Việt Nam tại thời điểm đó, hỏi nếu Hoa Kỳ đã chọn để dạy cho học sinh đi thi và làm thế nào?

Mỹ làm điều này: Họ tuyên bố rằng thế giới kỷ niệm Olympic Toán quốc tế. Mỗi quốc gia được phân tối đa là 8 học sinh, tuổi dưới 19, cùng giám đốc tham gia đại biểu cung cấp thi (giới hạn kiến ​​thức tổng quát) để hội đồng lựa chọn 6 học sinh tất cả, và các dấu chấm tất cả các điểm kiểm tra, trong đó có đoàn đại biểu của mình. Chi phí đi lại kiểm tra nguồn nước. Chi phí ăn ở trong quá trình xây dựng cho nước chủ nhà trả tiền.

Đoàn đại biểu của tôi sẽ đi, chọn các trẻ em dưới 19 tuổi, không học đại học. Nếu số lượng đăng ký của các tổ chức trên 8 loại kỳ thi, dưới 8, những người đang đi đăng ký. Union tài trợ sắp xếp riêng của họ (gia đình cho tiền, tài trợ của các tổ chức, cá nhân). Chính phủ Hoa Kỳ không đưa tiền, không dạy bất cứ điều gì. Mặc dù các trò chơi ngớ ngẩn nhưng Mỹ luôn đứng trong Top 3.

Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa làm điều này: Từ Level 2 (lớp 5-7), người đã không chơi trong một lớp học ưu tú của trường, tỉnh / thành phố. Để Cấp 3 (lớp 8-10) để chơi trong các trường học của các trường đại học, trên địa bàn tỉnh. Hình thành một loại “đua gà” chỉ để chơi: ước tính Chuyên ĐH với các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sư phạm, Sư phạm Vinh. Chuyên gia kế toán của các tỉnh như Chu Văn An (Hà Nội), Lam Sơn (Thanh Hóa), ​​Lê Hồng Phong (Nam Định) …

Sau đó, “họ gà” chuyển qua hàng chục viên đạn để nhận 14 “đứa trẻ” trong đội hình toán học quốc gia. Kể từ đó, sau 90 ngày kể từ ngày tập luyện chăm chỉ hơn 45 bài kiểm tra lấy ra 8 “gà” để đi thi. Nhưng không có nhiều tiền, nhưng ngân sách nhà nước bằng cách trả tất cả.

Trước khi bạn đi ra nước ngoài, Bộ Tài chính cho từng thành viên của nhóm đã mượn một bộ đồ, hai áo sơ mi, một đôi giày, vì họ phải trả tiền, không vớ.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch mời phái đoàn đã tổ chức một bữa ăn mì không thể đọc trước khi đội trưởng của mình và hỏi:

– Điều gì họ có thể mong muốn?

Nên có nói được xác định để mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam anh hùng, tôi nói:

– Họ mượn giày của cô, nhưng không có vớ, đau chân nhiều, tôi sẽ đi dép.

Dưới bàn, các giáo viên đá tôi một phát hiện khá đau đớn.

Thủ tướng Chính phủ nói với chảy nước của ông Tạ Quang Bửu, khi đó là Bộ trưởng Bộ Đại học:

Chiến tranh Country House vừa trải qua, rất nghèo, nhưng một ngôi sao vớ lo cho trẻ em -?

Khi chỉ có một loại của tất cả các bên phải của Trung Quốc được bán tại các cửa hàng bách Bo Ho $ 7 một cặp đồng.

Ngay lập tức, một núi tài liệu chính thức, điện thoại giữa Bộ Giáo dục Đại học, Bộ Tài chính và Văn phòng Chính phủ và các kết quả được trao đổi text chiều để cung cấp cho mỗi đứa trẻ ba hợp đồng mua vớ. Thiếu 4 đồng là chắc chắn cha mẹ, cha mẹ không có tiền bồi thường bác sĩ Bửu. Có lẽ đó là PPP đầu tiên của Việt Nam.

Mặc dù hoàn toàn chuyên nghiệp, nhưng từ năm 1975 đã có rất nhiều yếu tố không chuyên nghiệp trong quá trình lựa chọn len:

– Phải có các thành phần của nam và nữ.

– Số dư Ngay giữa số lượng các trung tâm, “gà” (trong đó trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm).

– Giáo viên thì thầm từ Sư phạm lò cho “gà” của trung tâm câu trả lời của mình trước khi chu kỳ kiểm tra.

– Thêm tất cả các yếu tố đạo đức, lịch sử, lớp thành phần nữa. Năm 1975, nhóm đã có một người bạn rất tốt bị loại vì ông tố cáo những Sư phạm “gà” cho tất cả các học sinh của mình. Lý do: “Thiếu tự kỷ luật, vấn đề đạo đức”. Có lẽ cũng là “Đồi Ngô” ngành giáo dục đầu tiên của Việt Nam.

Này cậu bé duy nhất trong số hàng ngàn “gà” khóa năm 1975 cho đến bây giờ vẫn sống như toán học và giảng dạy toán học tiên tiến ở một trường đại học có uy tín ở Mỹ.

Theo như tôi biết, hàng chục ngàn “gà” mà sau này không làm cho cháo gạo Châu là gì, nhưng làm vinh danh nền toán học Pháp và được dành cho một trường đại học Mỹ.

Tại sao lại khác nhau?

Khác nhau trong đó chính phủ Mỹ sử dụng tiền chắc chắn không phải kinh phí ngân sách cho khoa học, Văn hóa, Thể thao.

Nhà nghiên cứu, nhà văn, diễn viên và tự cuộc sống người chơi khoa học trong nghiên cứu tiền theo hợp đồng với các cơ quan chính phủ hoặc với các công ty, giảng dạy, bán sách, bán phim, chơi. Giống như tự lắp ráp với nhau mà giải thưởng Field, Oscar … nhiều phong cách Giáo sư, Viện sĩ …

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Người tiêu dùng hoặc người tiêu thụ là một trong những nghĩa rộng đề cập đến sản phẩm hoặc dịch vụ cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng sản xuất trong nền kinh tế. Khái niệm của người tiêu dùng được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, vì vậy việc sử dụng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng. Người tiêu dùng có nhu cầu, có thể mua các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường phục vụ cho cuộc sống, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình.

Trong những năm trước “đổi mới”, nhận thức của xã hội về quyền lợi của người tiêu dùng nói chung và hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đặc biệt là gần như không tồn tại. Cơ chế quản lý kinh tế dựa vào trợ cấp của chính phủ để tập trung vào các vấn đề lập kế hoạch để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng bởi hệ thống quản lý nhà nước thông qua tem.

>> Thương hiệu là gì ?

Kể từ thời kỳ cải cách, khi nền kinh tế của Việt Nam đã chuyển từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ hiện mua hàng, giao dịch giữa các dịch vụ sản xuất, hàng hóa, dịch vụ thương mại với một bên là người tiêu tiền vào hàng hóa và dịch vụ để phục vụ sinh hoạt và tiêu dùng của cá nhân, gia đình và các tổ chức (gọi chung là người tiêu dùng) và vai trò của người tiêu dùng được cải thiện.

Trong bối cảnh này, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được đưa ra và các lợi ích của người tiêu dùng được quy định bởi pháp luật như Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với sự tham gia của các tổ chức như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay Bộ Khoa học và Công nghệ) – cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nước và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục, Vụ trong tỉnh, bảo vệ Tiêu chuẩn và tiêu dùng ( VINASTAS) và các mạng của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Hiệp hội bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tại địa phương.

Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong năm 1999 là bước đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tiếp xúc với những hạn chế, bất cập như tính khả thi của các hướng dẫn Pháp lệnh và Nghị định không cao, nhiều quy định khá chung chung khó thực thi; một số điểm nhận dạng không cập nhật hoặc không bao gồm các vấn đề liên quan đến tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO chính thức; không có chế tài đủ mạnh để các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng (Luật của Hoa Kỳ, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ … được trao thẩm quyền xử phạt của cơ quan bảo vệ người tiêu dùng) và không có quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về bảo vệ quyền của người tiêu dùng để đảm bảo hiệu quả của công tác này.

Vì vậy, Bộ Thương mại là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này bổ sung đề xuất, sửa đổi Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và nâng lên thành các yêu cầu phù hợp với pháp luật của tình hình mới.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua Quốc hội trong năm 2010 quy định rõ các quyền của người tiêu dùng

Luật Bảo vệ người tiêu dùng Quốc hội quyền thông qua vào năm 2010, xác định người tiêu dùng có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

nguoi-tieu-dung-1

Quyền của người tiêu dùng

1. Để đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của việc hợp tác giao dịch và sử dụng hàng hoá, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ cấp.

2. Cung cấp thông tin chính xác, các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ toàn diện; Nội dung giao dịch hàng hóa và dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; cung cấp hoá đơn, chứng từ và các tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng mua và sử dụng.

3. Lựa chọn các hàng hóa, dịch vụ, các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu và điều kiện thực tế của họ; Quyết định tham gia hay không tham gia vào các thỏa thuận giao dịch và nội dung khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

4. Bình luận về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, dịch vụ phòng, phương thức giao dịch và các nội dung khác liên quan đến các giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

5. Tham gia xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

6. Yêu cầu bồi thường thiệt hại do hàng hóa và dịch vụ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ đã được công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

8. Tham mưu, hỗ trợ và hướng dẫn các kiến ​​thức về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng.

Nghĩa vụ của người tiêu dùng

1. Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; sự lựa chọn của người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây tổn hại cho cuộc sống và sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hàng hóa và dịch vụ hướng dẫn.

2. Thông tin cho các cơ quan chính phủ, các tổ chức và cá nhân liên quan khi phát hiện hàng hoá và dịch vụ lưu thông trên thị trường không đảm bảo an toàn, thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

THƯƠNG HIỆU LÀ GÌ ?

Thương hiệu (brand, brand name, trademark), hiểu một cách đơn giản, là một cái tên gắn với một sản phẩm hoặc một nhà sản xuất. Thương hiệu ngày nay đang ngày càng trở nên một thành tố quan trọng trong văn hóa và trong nền kinh kế. Hàng hiệu hoặc đồ hiệu được coi là những “vật phẩm văn hóa và triết lý cá nhân”.

Xây dựng thương hiệu là đề ra và gây dựng được những trông đợi gắn với trải nghiệm thương hiệu, tạo ra được ấn tượng rằng thương hiệu đó gắn với một sản phẩm hoặc dịch vụ với những chất lượng hoặc đặc tính nhất định khiến sản phẩm/dịch vụ đó trở nên độc đáo hoặc duy nhất. Vì thế thương hiệu là một trong những thành tố có giá trị nhất trong chủ đề quảng cáo, vì nó cho thấy nhà sản xuất có thể đem lại gì cho thị trường. Nghệ thuật tạo ra và duy trì thương hiệu được gọi chung là quản lý thương hiệu. Định hướng toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất nhắm vào phục vụ thương hiệu chính là tiếp cận thị trường theo lối lồng ghép tổng thể.

Nếu biết quản lý thương hiệu một cách thận trọng, cùng với một chiến dịch quảng cáo thông minh, có thể thuyết phục được khách hàng trả giá cao hơn rất nhiều giá thành sản phẩm. Đó là khái niệm tạo ra giá trị. Đó là cách thức vận dụng hình ảnh của sản phẩm làm sao để người tiêu dùng thấy được rằng sản thẩm đó xứng đáng với giá trị mà nhà quảng cáo muốn người tiêu dùng thừa nhận, chứ không phải là giá trị hợp lý của giá thành sản phẩm (nguyên liệu, công, chuyên chở, v.v.).

Người tiêu dùng thường tìm kiếm trong những sản phẩm hoặc dịch vụ có thương hiệu những khía cạnh giá trị gia tăng, vì chúng cho thấy một phẩm chất hoặc tính cách hấp dẫn nào đó. Từ góc độ của nhà sở hữu thương hiệu, các sản phẩm và dịch vụ có thương hiệu bao giờ cũng bán được giá cao hơn. Khi có hai sản phẩm tương tự như nhau, nhưng có một sản phẩm có thương hiệu còn một sản phẩm không có thương hiệu, người tiêu dùng thường chọn sản phẩm có thương hiệu và đắt tiền hơn dựa trên chất lượng gắn với uy tín của thương hiệu đó.

Bản sắc của thương hiệu

Bản sắc hoặc căn cước của một sản phẩm hoặc một thương hiệu là những giá trị mà nhà sản xuất/sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tin vào và nhận biết sản phẩm. Nhà sở hữu phải tìm cách gắn kết hình ảnh thương hiệu và căn cước của thương hiệu càng gần với nhau càng tốt. Những thương hiệu có hiệu quả cao thương biết cách kết nối giữa cá tính của thương hiệu trong quan niệm của đối tượng phục vụ và bản thân chính sản phẩm hoặc dịch vụ nó cung cấp. Hơn nữa, thương hiệu cần phải nhằm vào một số nhóm dân cư nhất định. Đặc biệt, những thương hiệu có sức sống lâu dài thường là những thương hiệu dễ nhớ, có thể duy trì qua nhiều xu hướng đổi thay, và mang lại một ấn tượng tích cực. Bản sắc của thương hiệu là hết sức quan trọng giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm; nó chính là biểu tượng của sự khác biệt của một thương hiệu so với những sản phẩm cạch tranh khác.

Bản sắc của thương hiệu xuất phát điểm vốn là những gì người sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tiềm năng tin vào. Thế nhưng qua thời gian, có những bản sắc tự nó phát triển, tích hợp thêm quan niệm của người tiêu dùng, không nhất thiết phải từ quảng cáo. Vì vậy luôn cần tìm hiểu về quan niệm của người tiêu dùng đối với một thương hiệu nào đó.

Bản sắc thương hiệu cần phải tập trung vào những phẩm chất nguyên gốc – những đặc tính thật có giá trị và những hứa hẹn nó mang lại – cũng như cần phải được duy trì bằng những đặc trưng trong quá trình tổ chức và sản xuất.

Vi phạm bản quyền

Bảo hộ và tranh tụng về thương hiệu

Để một thương hiệu được bảo hộ, một chủ quản có tư cách pháp nhân (có thể là một công ty, người sáng chế, tập đoàn, hiệp hội ngành nghề) phải đăng ký thương hiệu tại cơ quan nhà nước quản lý bản quyền thương hiệu. Một nhãn hiệu (brand) cần đăng ký để được bảo hộ thương hiệu (Registered Trademark: “Thương hiệu đã đăng ký” hay là “nhãn hiệu cầu chứng”). Thường là theo nguyên tắc, ai đăng ký trước và nếu không bị tranh tụng, sẽ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng thương hiệu đó.

Tại mỗi quốc gia, có cơ quan cấp quốc gia quản lý việc cấp quyền sử dụng thương hiệu (qua Giấy chứng nhận đăng ký thương hiệu) và giám sát các việc tranh kiện thương hiệu. Như tại Hoa Kỳ là Cục thương hiệu và bản quyền sáng chế Hoa Kỳ (The United States Patent and Trademark Office (USPTO) hay còn gọi là Văn phòng bản quyền sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ)

Nguồn lực chiến lược – Lợi thế cạnh tranh lâu dài ?

Nói đến chiến lược kinh doanh là chúng ta đang ngầm nói đến cách thức một doanh nghiệp tìm kiếm và xây dựng lợi thế cạnh tranh nhằm hướng tới các mục đích kinh doanh đã định. Lợi thế cạnh tranh lâu dài là yếu tố cho phép duy trì và cải tiến một cách thường xuyên vị trí cạnh tranh của một doanh nghiệp trên thị trường. Theo Porter M., lợi thế cạnh tranh hướng dẫn sự thành công của doanh nghiệp, thiết lập và giữ vững được lợi thế cạnh tranh là nguồn bản tạo ra lợi nhuận cao. Như vậy, tìm kiếm và khai thác lợi thế cạnh tranh luôn là vấn đề cơ bản của việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh. Tuy nhiên, đâu là lợi thế cạnh tranh?

Trong khoa học quản trị chiến lược, chúng ta đã được tiếp nhận nhiều lý thuyết nghiên cứu cách thức xây dựng và khai thác lợi thế cạnh tranh. Một trong những lý thuyết nổi tiếng là mô hình “5 lực lượng cạnh tranh” của Porter M. (1980), cho rằng cường độ cạnh tranh xác định tiềm năng lợi nhuận của một công ty. Theo đó, một công ty có vị trí trên một thị trường hấp dẫn cần phải bảo vệ chống lại với các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai. Vấn đề trọng yếu của quản trị chiến lược là phải làm thế nào để có được giá thành cạnh tranh lâu dài hoặc một vị trí chiến lược phòng thủ khác biệt, đồng thời làm thay đổi lực lượng cạnh tranh thông qua các chiến lược đầu tư, giá cả.

Từ hơn một thập niên lại đây, lý thuyết quản trị chiến lược dựa trên “nguồn lực” đã nổi lên như là một phương pháp tiếp cận chính trong nghiên cứu về nội dung chiến lược và là mô hình chủ đạo của thế giới kinh doanh. Lý thuyết chiến lược dựa vào nguồn lực phân tích lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách chỉ ra rằng có những khác biệt mang tính hệ thống giữa các doanh nghiệp trong cách thức các doanh nghiệp kiểm soát và sử dụng các nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược kinh doanh. Theo đó, nguyên tắc cơ bản của quản trị chiến lược để đảm bảo có được lợi nhuận cao là không ngừng tìm kiếm và khai thác các nguồn lực quan trọng chiến lược. Điều đó có nghĩa rằng lý thuyết quản trị dựa vào nguồn lực phân tích việc xây dựng, bảo vệ và phát triển lợi thế cạnh tranh thông qua các nguồn lực chiến lược mà doanh nghiệp kiểm soát. Để các nguồn lực này được coi là chiến lược và có khả năng tạo nên lợi thế cạnh tranh, chúng phải đáp ứng 4 điều kiện cơ bản : “Không đồng nhất, có giá trị, không thể bắt chước và khó lưu động” (Barney J., 1991).

Nguồn lực chiến lược của một doanh nghiệp có thể tồn tại dưới nhiều dạng tài sản, bao gồm tài sản vật chất, tài sản phi vật chất hay tượng trưng, nguồn nhân lực… Trong đó thương hiệu kinh doanh được coi là một tài sản quan trọng. Bằng cách áp dụng lý thuyết chiến lược dựa vào nguồn lực ở trên, tức là xem xét thương hiệu theo quan điểm của quản trị chiến lược dựa vào nguồn lực để tạo nên lợi thế cạnh tranh, thì thương hiệu kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ là một “tài sản có giá trị”, mà nó “không thể đồng nhất” với với thương hiệu của bất kỳ một công ty nào khác, đồng thời là một tài sản vô hình, nó “không có tính lưu động”, và hơn nữa nó được bảo vệ một cách thông thường bằng các công cụ pháp luật để “không thể bị bắt chước”.

Như vậy, với các đặc tính căn bản của thương hiệu và việc vận dụng nó bằng một lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại, thương hiệu kinh doanh trở thành một nguồn lực chiến lược tạo nên lợi thế cạnh tranh lâu dài và là công cụ để đạt được lợi nhuận cao trong môi trường kinh doanh siêu cạnh tranh !

Lời giới thiệu

Trong những năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế Việt nam tiếp tục có những bước phát triển rất ấn tượng. Cùng với tiến trình gia nhập WTO, Việt nam tăng cường liên kết khu vực và hội nhập quốc tế, thu hút nhiều hơn các thương hiệu nước ngoài vào Việt nam, đồng thời tạo đà cho thương hiệu Việt nam vươn ra thế giới. Tất yếu, việc bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ – vấn đề quan trọng trong việc quản lý và phát triển thương hiệu – ngày càng được chú trọng, khả năng thực thi quyền Sở hữu trí tuệ ngày càng được củng cố và nâng cao tại Việt Nam.

Thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, mở ra những cơ hội và thách thức.

Thương hiệu Việt Nam đang dần khẳng định mình trong quy mô thương mại toàn cầu. Do đó không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước, thương hiệu Việt Nam từng bước cạnh tranh với các thương hiệu quốc tế. Những diễn biến phức tạp trong cạnh tranh, những thiệt hại thương mại đã và đang xảy ra tại thị trường nước ngoài khiến các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhận thức rõ sự cần thiết của việc bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ trong phạm vi từng quốc gia, khu vực đến thế giới.

Xét dưới góc độ quản trị chiến lược, thương hiệu là một nguồn lực tạo nên lợi thế cạnh tranh lâu dài và là công cụ để đạt được lợi nhuận cao trong môi trường kinh doanh siêu cạnh tranh. Với kinh nghiệm và kiến thức trong thực tiễn kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, V Marque cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng và phát triển để thương hiệu thực sự là một “tài sản có giá trị”, mà “không thể đồng nhất” với bất kỳ thương hiệu nào khác, đồng thời bảo vệ loại “tài sản vô hình” này bằng các công cụ pháp luật sao cho nó “không thể bị bắt chước”.

Theo đó, các doanh nghiệp có thể sử dụng hữu hiệu một công cụ thương mại mạnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy sức mạnh văn hoá của doanh nghiệp và sử dụng mọi nguồn lực liên kết để tự bảo vệ mình tại Việt Nam và các thị trường mà thương hiệu vươn tới.

tu-van-quan-tri-thuong-hieu-1

Tư vấn quản trị thương hiệu

Ấn tượng, sự tin cậy và lòng trung thành của khách hàng với một thương hiệu phụ thuộc cách thức giao tiếp của thương hiệu đó với thị trường. Để giúp khách hàng phát triển cách thức giao tiếp cho thương hiệu một cách hiệu quả, V_MARQUE cung cấp các dịch vụ tư vấn xây dựng, phát triển và đổi mới thương hiệu trong việc:

Định hướng:

Phân tích đặc điểm văn hoá của các tập hợp khách hàng và của doanh nghiệp;

Hướng doanh nghiệp đến sự nhìn nhận toàn diện và sâu sắc về thương hiệu của mình; xác định những điểm thiết yếu đang làm cho thương hiệu của doanh nghiệp có giá trị;

Định hướng phát triển thương hiệu theo các phương thức giao tiếp thông qua sản phẩm, con người và văn hoá doanh nghiệp trong quá trình cung cấp hàng hoá/dịch vụ.

Chiến lược:

Xác định phương thức giao tiếp của thương hiệu, những giá trị và nội dung cần thể hiện hướng tới cảm nhận, suy nghĩ và hành động của khách hàng.

Thiết kế các phương tiện giao tiếp: logo, slogan, bao gói, quảng cáo, email, website,….

Cơ cấu giao diện khách hàng: tạo ra môi trường giao tiếp đảm bảo tính tương tác cao như đối thoại trực tiếp, show-room, tổ chức thăm hỏi khách hàng, giao dịch thương mại điện tử,…

Quản lý:

Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về sơ cấp và thứ cấp về thương hiệu của doanh nghiệp.

Thiết lập hệ thống báo cáo thông tin thường xuyên sự vận động của thương hiệu.

Xây dựng đội ngũ tác nghiệp triển khai chiến lược và điều chỉnh phương thức giao tiếp của thương hiệu ở mọi điểm tiếp xúc với thị trường; quản lý, khai thác và bảo vệ thương hiệu.